Một số lưu ý khi kiểm sát bản án, quyết định dân sự để thực hiện quyền kiến nghị, kháng nghị phúc thẩm

Theo KIEMSAT.VN – Để nâng cao số lượng, chất lượng kháng nghị phúc thẩm bản án, quyết định dân sự, nhất là kháng nghị phúc thẩm ngang cấp, Kiểm sát viên cần vận dụng các kỹ năng phát hiện vi phạm thông qua kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án; có phương pháp xác định nội dung trọng tâm, nắm được các dạng vi phạm trong từng quan hệ tranh chấp, từng loại khiếu kiện…

Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát được quy định tại Điều 21 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014. Thực tế cho thấy, để phát hiện được vi phạm khi nghiên cứu, kiểm sát bản án, quyết định giải quyết các vụ việc dân sự trong khi Viện kiểm sát không kiểm sát lập hồ sơ của Tòa án, không tham gia phiên tòa xét xử, đòi hỏi Kiểm sát viên phải có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng, thường xuyên nghiên cứu, tích lũy kinh nghiệm thực tiễn. Bởi lẽ, có những dạng vi phạm trong bản án, quyết định không phản ánh đầy đủ các tình tiết khách quan của vụ án, dẫn đến khó phát hiện vi phạm trên thực tế… Làm tốt công tác này, sẽ góp phần nâng cao số lượng, chất lượng kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát.

1. Một số dạng vi phạm thường gặp

– Thụ lý khi đương sự chưa có đủ điều kiện khởi kiện; thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện bổ sung mà đương sự chưa đóng tạm ứng án phí. Ví dụ: Tranh chấp quyền sử dụng đất chưa qua thủ tục hòa giải ở địa phương; giải quyết yêu cầu của người lao động khi chưa qua thủ tục hòa giải cơ sở (đối với trường hợp bắt buộc phải qua hòa giải cơ sở).

– Không đưa đầy đủ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng. Ví dụ: Trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng, tài sản thế chấp bao gồm quyền sử dụng đất và nhà trên đất. Thực tế tại thời điểm xét xử, trên đất thế chấp vẫn còn căn nhà khác, những người cư trú trong căn nhà này không liên quan đến hợp đồng tín dụng và chưa được tham gia tố tụng. Quá trình xét xử sơ thẩm, Tòa án không làm rõ vấn đề trên để đưa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng, bản án tuyên xử trường hợp bị đơn không trả được nợ vay thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp.

– Xác định sai quan hệ pháp luật tranh chấp dẫn đến áp dụng pháp luật không đúng. Ví dụ: Trong vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán nhà, sau khi đặt cọc, bên mua đã trả thêm tiền theo hợp đồng. Trong trường hợp này, giao dịch đã chuyển sang giai đoạn thực hiện hợp đồng nên Tòa án xác định tranh chấp hợp đồng đặt cọc là không đúng.

– Thu thập, đánh giá tài liệu, chứng cứ không đầy đủ, không khách quan. Ví dụ: Các tranh chấp về quyền sử dụng đất (QSDĐ), tranh chấp yêu cầu chia thừa kế mà phía bị đơn cho rằng đất đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận hợp pháp cho bị đơn nên không phải là di sản. Tòa án không xác minh về nguồn gốc đất, không thu thập tài liệu đăng ký kê khai đất qua các thời kỳ, không thu thập hồ sơ cấp giấy chứng nhận QSDĐ, không xác minh làm rõ ai có quá trình sử dụng đất, làm rõ việc thay đổi diện tích đất (nếu có).

– Xét xử vắng mặt đương sự không đúng quy định, như: Tòa án xét xử vắng mặt đương sự trong khi việc triệu tập đương sự chưa hợp lệ hoặc đương sự đã thông báo thay đổi nơi cư trú nhưng Tòa án vẫn tống đạt theo địa chỉ cũ.

– Bản án tuyên không đảm bảo tính có căn cứ, như: Chỉ căn cứ vào tài liệu là bản photocopy mà không có tài liệu gốc; bản án tuyên không phù hợp với các tình tiết chứng cứ khách quan của vụ án hoặc tuyên khi việc thu thập chứng cứ chưa đầy đủ.

– Chưa giải quyết hết các yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập của đương sự. Ví dụ: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, nguyên đơn có yêu cầu xử lý tài sản thế chấp nhưng phần quyết định của bản án không tuyên chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu này…

– Vụ án được xét xử theo thủ tục sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, Tòa án ra quyết định đình chỉ không đúng. Ví dụ: Trong vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán nhà, bản án phúc thẩm tuyên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, hủy hợp đồng do vô hiệu, buộc bị đơn phải trả lại tiền mua nhà cho nguyên đơn. Khi thi hành bản án phúc thẩm, cơ quan Thi hành án đã kê biên bán đấu giá nhà tranh chấp và chi trả tiền cho nguyên đơn. Quyết định giám đốc thẩm tuyên hủy án sơ thẩm và phúc thẩm do thiếu người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Khi xét xử sơ thẩm lại, nguyên đơn vắng mặt, Tòa án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án khi chưa có sự đồng ý của bị đơn và không giải quyết hậu quả của việc thi hành án.

– Giải quyết vượt quá yêu cầu của người khởi kiện, phản tố, yêu cầu độc lập hoặc giải quyết không hết yêu cầu, chưa triệt để các vấn đề cần giải quyết. Ví dụ: Trong thửa đất diện tích 388m2, nguyên đơn chỉ tranh chấp tiền bồi thường đối với phần đất bị thu hồi giải tỏa là 345m2, không tranh chấp diện tích 43m2 không bị thu hồi, nhưng Tòa án sơ thẩm giải quyết hết diện tích 388m2 là vượt quá yêu cầu khởi kiện theo Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015.

Đối với những vụ án có tài sản tranh chấp liên quan với nhau, Tòa án không nhập vụ án để giải quyết chung, không giải thích cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan về quyền yêu cầu độc lập để giải quyết toàn diện, triệt để, đảm bảo thi hành án. Ví dụ: Ông A khởi kiện ông B tranh chấp QSDĐ, phần đất tranh chấp, sau khi ông B chết do các con ông B là ông C và ông D sử dụng, xây nhà trên đất. Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của ông A, buộc các thừa kế của ông B phải trả lại đất cho ông A và dành quyền khởi kiện cho ông C và ông D đòi giá trị tài sản trên đất bằng vụ án khác. Tuy nhiên, để việc giải quyết vụ án triệt để và đảm bảo việc thi hành án cần phải xem xét ý kiến, yêu cầu của ông C và ông D đối với các công trình xây dựng trên đất. Tòa án cấp sơ thẩm chưa giải thích cho các đương sự về quyền yêu cầu này. Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự có yêu cầu buộc nguyên đơn phải trả chi phí xây dựng các công trình trên đất, đây là yêu cầu mới nhưng cần phải được giải quyết trong cùng vụ án thì mới thi hành án được.

– Bản án, quyết định tuyên không có tính khả thi (phần quyết định trong bản án không rõ ràng, không cụ thể nên không thi hành án được). Ví dụ: Án không tuyên rõ diện tích hoặc vị trí khu đất mà mỗi đương sự được sử dụng ở vị trí nào trên bản đồ hoặc chưa đo vẽ xác định vị trí nên tuyên chung chung.

Đối với án ly hôn có tranh chấp tài sản chung, một số bản án nhận định công sức đóng góp của các bên không phù hợp với các tình tiết chứng cứ, xác định tài sản chung không đúng, xác định nợ chung, nợ riêng không đúng. Ví dụ: Khoản nợ không do hai vợ chồng cùng thỏa thuận mà do một bên tự ý xác lập thuộc các trường hợp sau thì được xác định là nợ riêng: Không nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình; không phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình; không phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra theo quy định pháp luật; không phải thuộc trường hợp đại diện giữa vợ và chồng theo Luật hôn nhân và gia đình.

Đối với các tranh chấp hợp đồng (chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà…), Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu nhưng không giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu hoặc công nhận hợp đồng trong khi việc giao kết hợp đồng có vi phạm pháp luật. Ví dụ: Tòa án công nhận hợp đồng trong trường hợp bên chuyển nhượng đất không có giấy chứng nhận QSDĐ, bên nhận chuyển nhượng không đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận QSDĐ nông nghiệp, diện tích chuyển nhượng không đủ điều kiện để tách thửa theo quy định…

– Xác định án phí không đúng. Ví dụ: Không buộc đương sự phải chịu án phí đối với phần yêu cầu không được chấp nhận; không buộc đương sự phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con; đương sự là người cao tuổi nhưng không xem xét miễn án phí; lẽ ra phải áp dụng Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số năm 2009 nhưng lại áp dụng Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội dẫn đến tính số tiền án phí không đúng.

2. Một số kinh nghiệm và kỹ năng phát hiện vi phạm trong bản án, quyết định

Một là, nắm vững các quy định của pháp luật về tố tụng và về nội dung:

Lĩnh vực dân sự, hành chính rất đa dạng và phức tạp, có nhiều văn bản pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực điều chỉnh, tùy thuộc vào thời điểm phát sinh giao dịch, thời điểm phát sinh tranh chấp mà áp dụng pháp luật ban hành tại thời điểm tương ứng để giải quyết. Do đó, Kiểm sát viên cần phải nắm chắc các văn bản luật như: Bộ luật Dân sự, BLTTDS, Luật đất đai, Luật nhà ở, Luật xây dựng, Luật giao thông đường bộ, Luật quản lý thuế, Luật các tổ chức tín dụng… và các văn bản hướng dẫn thi hành các luật này, các án lệ, các nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao…

Việc nắm vững pháp luật là điều kiện tiên quyết, là cơ sở của mọi hoạt động công tác kiểm sát. Bên cạnh việc cập nhật các văn bản pháp luật mới, cần tăng cường trao đổi nghiệp vụ, tìm hiểu các tài liệu khác, nghiên cứu các thông báo rút kinh nghiệm để tích lũy kiến thức và kinh nghiệm.

Hai là, lưu ý một số vấn đề khi nghiên cứu hồ sơ, báo cáo đề xuất, chuẩn bị tham gia phiên tòa:

Để làm tốt công tác kiểm sát bản án, quyết định thì điều quan trọng nhất là phải làm tốt từ giai đoạn nghiên cứu hồ sơ, báo cáo đề xuất về việc giải quyết vụ án. Kiểm sát viên khi nghiên cứu hồ sơ cần kiểm sát chặt chẽ về tố tụng, tổng hợp, phân tích, đánh giá chứng cứ có tại hồ sơ và tại phiên tòa để đề xuất hướng giải quyết phù hợp. Điều đó đòi hỏi cán bộ, Kiểm sát viên cần nghiên cứu, nắm vững hồ sơ và báo cáo đề xuất các vấn đề về tố tụng và nội dung của vụ án, trong đó lưu ý:

– Đương sự đã nộp tạm ứng án phí đầy đủ đối với tất cả các yêu cầu chưa? Tòa án có thông báo thụ lý đầy đủ các yêu cầu này không? Việc thay đổi, bổ sung yêu cầu (nếu có) đã đóng tạm ứng án phí bổ sung chưa; xác định thời hạn khởi kiện bổ sung; xác định việc thay đổi có vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu không?

– Xác định thẩm quyền giải quyết; thời hiệu khởi kiện (nếu có yêu cầu áp dụng thời hiệu đối với án dân sự). Trên cơ sở yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập, xem xét quan hệ tranh chấp/loại khiếu kiện Tòa án đã thụ lý có đúng không; bởi lẽ, việc xác định đúng quan hệ tranh chấp/loại khiếu kiện sẽ giúp cho việc xác định chính xác căn cứ pháp luật cần áp dụng để giải quyết.

– Xác định tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng? Kiểm tra, xác định đầy đủ những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến các yêu cầu của đương sự, nêu rõ sự cần thiết đưa thêm người tham gia tố tụng (nếu có)? Ví dụ, người cư trú tại nhà đất tranh chấp, thu hồi, giải tỏa; vợ, chồng, con của đương sự; người thừa kế; người có công sức đóng góp…

– Việc thu thập chứng cứ đã đầy đủ để có cơ sở giải quyết hay chưa? Có cần xác minh, thu thập thêm chứng cứ khác không? Nêu rõ yêu cầu (xác minh, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ …). Cần lưu ý các vấn đề về mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải/đối thoại; xem xét thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu; thủ tục tống đạt có đầy đủ, đúng quy định pháp luật không? Các tài liệu là bản photocopy cần đối chiếu bản chính tại phiên tòa (nếu có)…; các vấn đề cần làm rõ thêm tại phiên tòa (nếu có); các kiến nghị khắc phục vi phạm tố tụng (nếu có); việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng…

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu hồ sơ, trường hợp nhận thấy Tòa án thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, còn thiếu người tham gia tố tụng… thì căn cứ khoản 3 Điều 58 BLTTDS năm 2015 yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 6 Điều 97 BLTTDS năm 2015. Nếu Tòa án không thực hiện đầy đủ theo yêu cầu mà vẫn xét xử, án tuyên không đảm bảo tính có căn cứ hoặc thiếu người tham gia tố tụng, tuyên không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án hoặc có sai sót trong việc áp dụng pháp luật thì xem xét kháng nghị phúc thẩm hoặc báo cáo đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm.

– Về hướng giải quyết vụ việc: Cần phân tích, đánh giá chứng cứ do các bên cung cấp và do Tòa án thu thập, lập luận, áp dụng các quy định của pháp luật để xét các yêu cầu của đương sự và đề xuất quan điểm cụ thể về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập của đương sự hoặc yêu cầu của người yêu cầu giải quyết việc dân sự.

Ba là, nắm vững kỹ năng nghiên cứu hồ sơ một số loại tranh chấp thường gặp:

– Đối với tranh chấp QSDĐ, tranh chấp hợp đồng liên quan đến QSDĐ: Khi nghiên cứu hồ sơ cần lưu ý nghiên cứu kỹ một số vấn đề sau:

Xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ, thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh hay Tòa án cấp huyện khi giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm; tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án hay thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân (UBND). Theo khoản 9 Điều 26 BLTTDS năm 2015 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013, tranh chấp đất mà đương sự có giấy chứng nhận QSDĐ hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân (TAND) giải quyết; trường hợp không có giấy chứng nhận QSDĐ hoặc một trong số các giấy tờ quy định tại Điều 100 thì đương sự chỉ có quyền lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp: Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại UBND cấp có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại TAND có thẩm quyền.

Điều kiện thụ lý vụ án: Vụ án có phải qua thủ tục hòa giải không (nếu vụ án tranh chấp ai là người có QSDĐ phải qua thủ tục hòa giải (Điều 202 Luật đất đai năm 2013), tranh chấp liên quan đến QSDĐ, thừa kế QSDĐ thì thủ tục hòa giải không phải là điều kiện bắt buộc).

Xác định giấy tờ về nguồn gốc đất tranh chấp: Cần xác định đất đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ chưa? Nếu chưa được cấp giấy chứng nhận QSDĐ thì có một trong các giấy tờ theo quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013 hay không? Các giấy tờ về việc chuyển nhượng…; việc trả lời xác minh của UBND về nguồn gốc đất, người quản lý và sử dụng đất (thông thường Tòa án cần phải xác minh thông tin về nguồn gốc và tình trạng pháp lý của thửa đất, người đăng ký sử dụng đất theo Chỉ thị số 299-TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ, xác định người nộp thuế đất hàng năm, người đang trực tiếp quản lý sử dụng đất…); xem xét lời trình bày của đương sự trong quá trình hòa giải ở xã, phường trước khi khởi kiện.

Nghiên cứu hồ sơ cấp giấy chứng nhận QSDĐ: Quá trình kê khai, đăng ký và sử dụng đất, đối chiếu với các quy định của Luật đất đai về thẩm quyền, quy trình, thủ tục cấp giấy chứng nhận QSDĐ để xem xét tính hợp pháp của việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Ví dụ: Trong vụ án tranh chấp QSDĐ hoặc tranh chấp thừa kế QSDĐ, nguyên đơn trình bày đất của gia tộc để lại, bị đơn trình bày đất do bị đơn khai hoang sử dụng lâu dài, được cấp giấy chứng nhận hợp pháp, nhưng hồ sơ cấp giấy chứng nhận QSDĐ thể hiện khi làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận, bị đơn kê khai nguồn gốc đất là được ông bà (cha mẹ) để lại.

Các giao dịch liên quan và sự kiện pháp lý làm phát sinh tranh chấp (hợp đồng tặng cho, chuyển đổi, chuyển nhượng, thế chấp… hay được thừa kế).

Các tài liệu liên quan đến thẩm định, đo vẽ, định giá tài sản tranh chấp nhằm xác định đúng thực trạng, vị trí, giá trị đất khi giải quyết việc bồi thường, tính án phí. Ví dụ: Trong các vụ tranh chấp QSDĐ về một phần diện tích giữa các hộ liền kề thì phải áp ranh giới vị trí đất tranh chấp với giấy chứng nhận QSDĐ của các bên để xem xét phần đất tranh chấp thuộc giấy chứng nhận của bên nào, phần đất thuộc thửa nào, thửa đó do ai đăng ký kê khai qua các thời kỳ.

Xác định tư cách đương sự trong vụ án tranh chấp QSDĐ: Đất của hộ gia đình hay cá nhân; công sức đóng góp đầu tư, duy trì, cải tạo; hiện tại phần đất tranh chấp ai là người đang trực tiếp quản lý, sử dụng để đưa đầy đủ những người liên quan vào tham gia tố tụng.

Đối với hợp đồng liên quan đến QSDĐ: Ngoài Bộ luật Dân sự năm 2015, một số trường hợp có thể vận dụng quy định tại Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP 16/4/2003, Nghị quyết số 02/2004/NQ-HDTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao huớng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình; xem xét ý kiến của đương sự về giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng khi bị tuyên vô hiệu theo quy định tại điểm 2 Mục III Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của TAND tối cao giải đáp một số vấn đề về nghiệp vụ.

– Đối với tranh chấp về hợp đồng vay tài sản:

Cần lưu ý nội dung của hợp đồng (thời điểm vay, thời hạn vay; vay có lãi hay không có lãi, nếu có lãi thì thỏa thuận của các bên về lãi có đúng quy định của pháp luật không; vay có thế chấp hay không có thế chấp tài sản bảo đảm, quy định về phạt hợp đồng…), các tài liệu khác như: Lời khai của các đương sự trong quá trình thực hiện hợp đồng; giấy tờ thể hiện việc trả nợ gốc, lãi, chốt nợ…, cần xác định được thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm để xác định thời hiệu (khi đương sự yêu cầu áp dụng thời hiệu); xem xét hình thức nội dung của hợp đồng, có bị đe dọa, cưỡng ép, nhầm lẫn, vi phạm điều cấm hoặc thỏa thuận giả tạo không…).

Bên cạnh Bộ luật Dân sự, Kiểm sát viên cần nghiên cứu vận dụng Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm trong hợp đồng vay tài sản.

– Đối với tranh chấp về thừa kế: Xác định thừa kế có di chúc hay không có di chúc, xác định tính hợp pháp của di chúc (nếu có). Trường hợp di chúc hợp pháp thì cần lưu ý những người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc, gồm: Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng hoặc con thành niên nhưng không có khả năng lao động; xem xét hình thức của di chúc (theo Điều 628, 629 Bộ luật Dân sự năm 2015) và ngày lập di chúc. Nếu di chúc không hợp pháp hoặc không có di chúc thì chia thừa kế theo pháp luật.

Xác định hàng thừa kế và diện thừa kế, thừa kế thế vị, người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc (Điều 644); đối với yêu cầu của các bên đương sự có hay không việc nhường kỷ phần của mình cho ai, trách nhiệm đối với các nghĩa vụ của người chết để lại di sản. Xác định thời điểm mở thừa kế (ngày, tháng, năm người có tài sản chết hoặc ngày được Tòa án xác định của người bị tuyên bố là đã chết, địa điểm mở thừa kế); khi xác định di sản, Kiểm sát viên cần lưu ý những trường hợp từ chối nhận di sản (việc từ chối có nhằm trốn trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình với người khác không), không được quyền hưởng di sản, thừa kế thế vị, người thừa kế không phụ thuộc vào di chúc. Xác định thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế; nghĩa vụ về tài sản mà người chết để lại; công sức của người bảo quản, tôn tạo di sản thừa kế; nguyên nhân dẫn đến việc tranh chấp, nguyện vọng của đương sự trong việc giải quyết tranh chấp.

Yêu cầu của các đương sự về việc hưởng di sản thừa kế bằng hiện vật hay bằng giá trị (tiền); nếu phải chia bằng hiện vật là QSDĐ thì diện tích đất tối thiểu được chia có đủ điều kiện để tách thửa, điều kiện xây dựng công trình theo quy định hay không?

Đối với di sản là QSDĐ phải xác định đất là di sản thừa kế là loại đất gì (đất thổ cư, đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp….); diện tích đất đó đã được Nhà nước giao cho người khác, đưa vào tập đoàn, hợp tác xã… trong quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa trước đây chưa. Đất đó được cấp giấy chứng nhận QSDĐ hay chưa; lưu ý đối với di sản dùng vào việc thờ cúng, thì hạn chế phân chia di sản bằng hiện vật…/.

Nguồn bài viết: https://kiemsat.vn/mot-so-luu-y-khi-kiem-sat-ban-an-quyet-dinh-dan-su-de-thuc-hien-quyen-kien-nghi-khang-nghi-phuc-tham-63957.html

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *