Giới hạn xét xử và phạm vi quyết định về hình sự của Hội đồng xét xử sơ thẩm

Theo TS. NGUYỄN MAI BỘ (Nguyên Phó Chánh án Tòa án quân sự trung ương)Một trong những nhiệm vụ cơ bản quan trọng nhất của Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, trong giới hạn xét xử và phạm vi được pháp luật quy định.

1. Nhiệm vụ cơ bản của Hội đồng xét xử sơ thẩm

Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là việc Tòa án lần đầu bằng một Hội đồng xét xử căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ của vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác quyết định một người bị truy tố về một tội phạm cụ thể có phạm tội hay không; nếu có, thì phạm tội gì, theo điểm, khoản, điều nào của BLHS và quyết định việc áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp đối với người bị kết án và giải quyết những vấn đề khác của vụ án. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có thể được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.

– Theo nghĩa rộng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là quá trình nghiên cứu hồ sơ, chuẩn bị xét xử và xét xử tại phiên tòa vụ án hình sự đối với bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử về một tội cụ thể được quy định trong BLHS. Theo nghĩa này, thì nhiệm vụ của Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa không chỉ là nghiên cứu hồ sơ, đánh giá chứng cứ để tiến hành sơ bộ việc định tội danh, dự kiến hình phạt có thể áp dụng đối với bị can bị truy tố mà còn phải giải quyết các vấn đề như: thẩm quyền xét xử vụ án (vụ án có thuộc thẩm quyền của Tòa án mình hay không, nếu không thuộc thẩm quyền thì phải chuyển vụ án cho Viện kiểm sát đã truy tố để chuyển đến Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố); quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; nếu có đủ căn cứ để đưa vụ án ra xét xử thì phải tiến hành các công việc chuẩn bị cho việc mở phiên tòa và tổ chức phiên tòa xét xử vụ án; nếu không đủ căn cứ đưa vụ án ra xét xử và xét thấy có căn cứ thì quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung; nếu có căn cứ để đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án thì ra quyết định định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.

 Theo nghĩa hẹp, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án hình sự đối với bị cáo bị truy tố về một tội phạm cụ thể. Theo nghĩa này, thì Hội đồng xét xử tiến hành: Thẩm tra các chứng cứ, tài liệu bằng cách xét hỏi, tổ chức việc xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa; Nghị án để đánh giá chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra, ý kiến tranh luận của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác để quyết định người bị truy tố có phạm tội hay không; nếu có, thì phạm tội gì, theo điểm, khoản, điều nào của BLHS, quyết định việc áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp đối với người bị kết án, giải quyết những vấn đề khác của vụ án; và tuyên án.

Như vậy, dù hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, thì một trong những nhiệm vụ cơ bản quan trọng nhất của Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Nghĩa là, phải xét xử (phán xét và quyết định) chính xác người bị truy tố có phạm tội hay không; nếu có, thì phạm tội gì, theo điểm, khoản, điều nào của BLHS và quyết định việc áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp đối với người đó.

2. Giới hạn của việc xét xử

Việc ra quyết định chính xác người bị truy tố có phạm tội hay không; nếu có, thì phạm tội gì, theo điểm, khoản, điều nào của BLHS và quyết định việc áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp đối với người đó liên quan mật thiết với quy định của BLTTHS về giới hạn của việc xét xử, phạm vi quyết định về hình sự của Hội đồng xét xử sơ thẩm và thẩm quyền xét xử vụ án hình sự. Tại Điều 298 “Giới hạn của việc xét xử” BLTTHS quy định hai vấn đề:

Thứ nhất, là giới hạn của việc xét xử. Chúng tôi cho rằng, giới hạn của việc xét xử là phạm vi những bị cáo và những hành vi của bị cáo mà Tòa án được xét xử theo quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Tại khoản 1 Điều 298 BLTTHS, thì “Tòa án xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử”. Theo đó, Tòa án chỉ được xét xử đối với những bị cáo và những hành vi mà Viện kiểm sát truy tố mà Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử.

Ví dụ: (1) Nguyễn Văn A bị truy tố về  hành vi trộm cắp tài sản của Nguyễn Văn B về Tội trộm cắp tài sản. Tại phiên tòa, mặc dù qua xét hỏi và tranh luận còn chứng minh được Nguyễn Văn C cùng Nguyễn Văn A thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của Nguyễn Văn B, thì Tòa án cũng không được kết án Nguyễn Văn C phạm Tội trộm cắp tài sản vì Viện kiểm sát không truy tố Nguyễn Văn C; (2) Nguyễn Văn A bị Viện kiểm sát truy tố về 05 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, mỗi lần trộm cắp tài sản đều có giá trị từ trên 2.000.000 đồng trở lên. Tại phiên tòa, mặc dù qua xét hỏi và tranh luận còn chứng minnh được Nguyễn Văn A còn có 01 lần khác trộm cắp tài sản có giá trị trên 2.000.000 đồng, thì Tòa án cũng chỉ được kết án Nguyễn Văn A về 5 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản mà không được kết án về hành vi trộm cắp mới được chững minh tại phiên tòa.  Trong các trường hợp nêu trên, Tòa án phải căn cứ vào điểm b hoặc c khoản 1 Điều 280 BLTTHS trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Thứ hai, là phạm vi quyết định về hình sự của Hội đồng xét xử. Quyết định về hình sự của Hội đồng xét xử là kết luận của Hội đồng xét xử khi nghị án (phải được ghi vào biên bản nghị án, bản án) về việc người bị truy tố có phạm tội hay không (nếu có, thì phạm tội gì, theo điểm, khoản, điều nào của BLHS, loại và mức hình phạt mà người đó phải chất hành) và được tuyên tại phiên tòa. Căn cứ vào nội dung quyết định bị cáo có phạm tội hay không, có thể chia quyết định của Hội đồng xét xử thành: Quyết định bị cáo không phạm tội; Quyết định bị cáo phạm tội. Trong đó:

– Quyết định bị cáo không phạm tội là kết luận của Hội đồng xét xử về việc người bị truy tố không phạm tội. Nghĩa là hành vi bị truy tố không cấu thành bất cứ tội phạm nào trong BLHS, trong đó có tội mà Viện kiểm sát truy tố. Với quyết định bị cáo không phạm tội, thì trong Phần quyết định của bản án phải ghi “Tuyên bố bị cáo (Ví dụ: Bị cáo Nguyễn Văn A) không phạm tội”. Hiện nay, BLTTHS mới chỉ quy định “Nếu bị cáo không có tội thì bản án phải ghi rõ những căn cứ xác định bị cáo không có tội và việc giải quyết khôi phục danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luât”[1] với tư cách là một trong những nội dung của bản án sơ thẩm. Tại Điều 298 BLTTHS chưa coi kết luận về việc người bị truy tố không phạm tội là một nội dung giới hạn của việc xét xử sơ thẩm.

– Quyết định bị cáo phạm tội là kết luận của Hội đồng xét xử về việc người bị truy tố phạm một tội được quy định tại một điểm, khoản, điều luật cụ thể của BLHS. Với quyết định bị cáo phạm tội, thì trong Phần quyết định của bản án phải ghi “Tuyên bố bị cáo phạm tội (Ví dụ: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn A phạm Tội trộm cắp tài sản…)”. So với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, thì có các trường hợp sau:

+ Trường hợp thứ nhất, tội danh mà Hội đồng xét xử quyết định áp dụng trùng với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố. Nghĩa là về điều luật (quy định về một tội phạm cụ thể) thì Hội đồng xét xử và Viện kiểm sát thống nhất áp dụng để kết tội đối với bị cáo. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 298 BLTTHS, thì Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật. Do vậy, sẽ có hai khả năng:

Một là, điểm, khoản của Điều luật mà Hội đồng xét xử áp dụng để quyết định hình phạt đối với bị cáo trùng với điểm, khoản của Điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố. Ví dụ: Viện kiểm sát truy tố về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS và Hội đồng xét xử quyết định bị cáo phạm Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS;

Hai là, điểm, khoản của Điều luật mà Hội đồng xét xử áp dụng để quyết định hình phạt đối với bị cáo không trùng với điểm, khoản của Điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố. Ví dụ: Viện kiểm sát truy tố bị cáo về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 2 Điều 174 BLHS, Hội đồng xét xử cũng quyết định bị cáo phạm Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng áp dụng khoản 1, điểm … khoản 3 hoặc điểm… khoản 4 Điều 174 BLHS để xử phạt  bị cáo về tội phạm này.

+ Trường hợp thứ hai, tội danh mà Hội đồng xét xử áp dụng không trùng với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố. Nghĩa là điều luật (quy định về một tội phạm cụ thể) mà Hội đồng xét xử quyết định áp dụng để kết tội bị cáo không trùng với điều luật mà Viện kiểm sát áp dụng để truy tố bị can. Do vậy, sẽ có ba khả năng: Một là, điều luật mà Hội đồng xét xử quyết định áp dụng để kết tội bị cáo về một tội bằng tội mà Viện kiểm sát đã truy tố; Hai là, điều luật mà Hội đồng xét xử quyết định áp dụng để kết tội bị cáo về một tội nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố; Ba là, điều luật mà Hội đồng xét xử quyết định áp dụng để kết tội bị cáo về một tội nặng hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Để kết tội bị cáo về một tội bằng, nhẹ hơn hoặc nặng hơn tội mà Viện kiểm sát truy tố cần so sánh tội mà Viện kiểm sát đã truy tố và tội mà Tòa án định xét xử. Theo đó: [2]

– Tội phạm khác bằng tội phạm mà Viện kiểm sát đã truy tố là trường hợp điều luật quy định về trách nhiệm hình sự (hình phạt chính, hình phạt bổ sung) đối với 02 tội phạm như nhau. 

– Tội phạm khác nhẹ hơn tội phạm mà Viện kiểm sát đã truy tố là trường hợp điều luật quy định về trách nhiệm hình sự (hình phạt chính, hình phạt bổ sung) đối với tội phạm khác nhẹ hơn so với tội phạm mà Viện kiểm sát đã truy tố. Để xác định tội nào nhẹ hơn, tội nào nặng hơn thì cần thực hiện theo thứ tự như sau:

+ Trước hết xem xét hình phạt chính đối với hai tội phạm, nếu tội nào điều luật có quy định loại hình phạt nặng nhất nặng hơn thì tội đó nặng hơn. 

+ Trong trường hợp điều luật quy định loại hình phạt nặng nhất đối với cả hai tội là tù có thời hạn (không quy định hình phạt tử hình, hình phạt tù chung thân) thì tội nào, điều luật quy định mức hình phạt tù cao nhất đối với tội ấy cao hơn là tội đó nặng hơn.  

+ Trong trường hợp điều luật quy định loại hình phạt nặng nhất đối với cả hai tội đều tử hình hoặc đều tù chung thân hoặc đều tù có thời hạn và mức hình phạt tù cao nhất đối với cả hai tội như nhau, thì tội nào điều luật quy định mức hình phạt tù khởi điểm cao hơn là tội đó nặng hơn. 

+ Trong trường hợp điều luật quy định loại hình phạt nặng nhất đối với cả hai tội đều là tù có thời hạn và mức hình phạt tù khởi điểm, mức hình phạt tù cao nhất như nhau, thì tội nào điều luật còn quy định loại hình phạt chính khác nhẹ hơn (cải tạo không giam giữ, phạt tiền, cảnh cáo) thì tội đó nhẹ hơn. Nếu điều luật cùng quy định các loại hình phạt như nhau, nhưng có mức cao nhất, mức khởi điểm khác nhau thì việc xác định tội nặng hơn, tội nhẹ hơn được thực hiện tương tự như đã trình bày trên đây.

+ Trong trường hợp điều luật quy định các loại hình phạt chính đối với cả hai tội như nhau, thì tội nào điều luật còn quy định hình phạt bổ sung là tội đó nặng hơn. Nếu điều luật cùng quy định hình phạt bổ sung như nhau, nhưng đối với tội này thìhình phạt bổ sung là bắt buộc, còn đối với tội khác hình phạt bổ sung có thể áp dụng, thì tội nào điều luật quy định hình phạt bổ sung bắt buộc là tội đó nặng hơn.

Khi áp dụng Điều 298 “Giới hạn của việc xét xử” BLTTHS cần chú ý hai vấn đề:

– Vấn đề thứ nhất, khi Viện kiểm sát truy tố bị cáo về nhiều tội với nhiều hành vi phạm tội, thì Toà án cũng có thể xét xử bị cáo về tội nhẹ nhất trong các tội mà Viện kiểm sát truy tố hoặc về tội nhẹ hơn tất cả các tội mà Viện kiểm sát truy tố đối với tất cả các hành vi phạm tội đó.

Ví dụ: Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Văn A về năm hành vi phạm tội, trong đó hai hành vi bị truy tố về Tội cướp tài sản, ba hành vi bị truy tố về Tội cướp giật tài sản, thì Tòa án có thể kết án (nếu có căn cứ) bị cáo Nguyễn Văn A về: Tội cướp giật tài sản đối với cả năm hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát truy tố (vì Tội cướp giật tài sản nhẹ hơn Tội cướp tài sản); hoặc Tội cưỡng đoạt tài sản đối với cả năm hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát truy tố (vì Tội cưỡng đoạt tài sản nhẹ hơn Tội cướp giật tài sản và Tội cướp tài sản)[3].

– Vấn đề thứ hai, trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết. Việc phối hợp thực hiện trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong trường hợp nay được thực hiện như sau: Trường hợp phải thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can về tội danh khác nặng hơn thì Viện kiểm sát trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung để thay đổi tội danh và kết luận điều tra về tội danh khác nặng hơn; Nếu Viện kiểm sát đã yêu cầu mà Cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can về tội danh khác nặng hơn và yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện theo quy định tại Điều 156 và Điều 180 của BLTTHS; Trường hợp Viện kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó[4].

3. Tranh chấp thẩm quyền xét xử

Quy định về việc Tòa án có thể xét xử bị cáo về tội mà Viện kiểm sát đã truy tố nhưng theo khung hình phạt nặng hơn (khoản 2 Điều 298 BLTTHS) hoặc về tội nặng hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố (khoản 3 Điều 298 BLTTHS) mới chỉ giải quyết được vụ án hình  do TAND cấp tỉnh hoặc TAQS cấp quân khu thụ lý hồ sơ vụ án. Bởi lẽ, TAND cấp tỉnh, TAQS cấp quân khu có thẩm quyền xét xử những vụ án về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng. Do vậy, trường hợp Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng nhưng Tòa án đã thụ lý hồ sơ vụ án cho rằng bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nên đã trả hồ sơ để viện kiểm sát truy tố lại và nếu Viện kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố thì TAND cấp tỉnh, TAQS cấp quân khu có quyền xét xử bị cáo về tội danh đặc biệt nghiêm trọng đó. Trong trường hợp này, TAND cấp tỉnh, TAQS cấp quân khu chỉ cần thi hành đúng các quy định của BLTTHS về thẩm quyền xét xử của Toà án các cấp, về thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm và về việc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo[5].

Còn trường hợp TAND cấp huyện, TAQS khu vực thì không thể xét xử bị cáo về tội danh hoặc theo khoản nặng hơn tội phạm mà Viện kiểm sát đã truy tố, nếu tội phạm hoặc khoản của điều luật mà Tòa án định xét xử là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng vì vi phạm thẩm quyền xét xử theo loại tội phạm. Bởi lẽ, theo quy định tại khoản 1 Điều 268 BLTTHS, thì TAND cấp huyện, TAQS khu vực chỉ có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng.

Với cơ chế quy định tại Điều 298 BLTTHS và để giải quyết triệt để vụ án và bảo đảm nguyên tắc xét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm hoặc xét xử giám đốc thẩm theo hướng hủy án sơ thẩm để xét xử về tội nặng hơn. Như vậy, về thủ tục tố tụng thì việc xác định thẩm quyền giải quyết vụ án rất vòng vèo và tốn thời gian, công sức một cách không cần thiết. Chúng tôi cho rằng, việc TAND cấp huyện đang thụ lý vụ án cho rằng, bị cáo đang bị truy tố phạm tội nặng hơn và để xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật thì vụ án phải thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp trên là một dạng tranh chấp thẩm quyền xét xử. Tuy nhiên, tại Điều 275 BLTTHS lại chưa quy định việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa TAND cấp trên và TAND cấp dưới. Do vậy, chúng tôi đề nghị:

Thứ nhất, bổ sung một khoản sau khoản 2 Điều 275 BLTTHS nội dung: “Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án nhân dân cấp trên trong cùng một tỉnh, giữa Tòa án quân sự khu vực với Tòa án quân sự cấp trên trong cùng một quân khu do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu quyế định”;

Thứ hai, bổ sung một khoản vào sau khoản 3 Điều 298 BLTTHS nội dung: “Trường hợp có căn cứ xét xử bị cáo về khoản hoặc tội danh nặng hơn khoản hoặc tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp trên thì Tòa án chuyển hồ sơ lên Tòa án cấp trên để Chánh án Tòa án nhân dân cấp trên giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử”.

Việc Chánh án TAND cấp tỉnh, Chánh án TAQS cấp quân khu quyết định vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp trên không đồng nghĩa với việc Tòa án cấp trên (Hội đồng xét xử) phải kết luận bị cáo phạm tội như quan điểm của Tòa án cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực. Tuy nhiên, với cơ chế này sẽ giải quyết được triệt để vụ án và không phải qua nhiều cấp, nhiều lần xét xử vụ án mà quy định tại Điều 298 BLTTHS chưa giải quyết được.

Toà án huyện Krông Pắc, Đắk LắK xét xử sơ thẩm vụ án “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”- Ảnh: Võ Thanh Hà

Nguồn bài viết: https://tapchitoaan.vn/gioi-han-xet-xu-va-pham-vi-quyet-dinh-ve-hinh-su%C2%A0%C2%A0cua-hoi-dong-xet-xu-so-tham6821.html


[1] Xem: Bộ luật tố tụng hình sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, điểm d khoản 2, Điều 260.

[2].Xem Toà án nhân dân tối cao, Các văn bản quy phạm pháp luật của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành pháp luật, Hà Nội, 2005, tr.1067-108.

[3].Xem Toà án nhân dân tối cao, Các văn bản quy phạm pháp luật của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành pháp luật, Hà Nội, 2005, tr.108.

[4].Xem Điều 7 Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP, ngày 22 tháng 12 năm 2017của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộc Quốc phòng quy định việc phổi hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụngtrong thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

[5].Xem Toà án nhân dân tối cao, Các văn bản quy phạm pháp luật của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành pháp luật, Hà Nội, 2005, tr.108.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *