Hoàn thiện quy định của Luật Doanh nghiệp về xác lập quyền, nghĩa vụ của thành viên trong Công ty trách nhiệm hữu hạn

Theo NGUYỄN NGỌC TƯ (Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2) – Bài viết phân tích, làm rõ những điểm hạn chế, bất cập trong quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 về xác lập quyền, nghĩa vụ của thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn. Trên cơ sở đó, đưa ra phương hướng và các giải pháp cụ thể để hoàn thiện quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 về xác lập quyền, nghĩa vụ của thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn.

1. Đặt vấn đề

Tiếp tục kế thừa, phát huy kết quả và tác động tích cực của các cải cách trong các Luật Doanh nghiệp năm 2000, 2005 và 2014 về hiện thực hóa đầy đủ quyền tự do kinh doanh theo nguyên tắc doanh nghiệp được quyền kinh doanh tất cả ngành nghề mà pháp luật không cấm hoặc không hạn chế, Luật Doanh nghiệp năm 2020 được xây dựng với một số mục tiêu cụ thể sau: Thứ nhất, tạo thuận lợi nhất cho hoạt động thành lập và đăng ký doanh nghiệp; cắt giảm chi phí và thời gian trong khởi sự kinh doanh; góp phần nâng xếp hạng chỉ số khởi sự kinh doanh lên ít nhất 25 bậc (theo xếp hạng của Ngân hàng thế giới); Thứ hai, nâng cao cơ chế bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư, cổ đông, thành viên của doanh nghiệp; thúc đẩy quản trị doanh nghiệp đạt chuẩn mực theo thông lệ tốt và phổ biến trong khu vực và quốc tế; nâng mức xếp hạng chỉ số bảo vệ nhà đầu tư lên ít nhất 20 bậc (theo xếp hạng của Ngân hàng thế giới); Thứ ba, nâng cao hiệu lực quản trị, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình đối với doanh nghiệp mà nhà nước có phần vốn góp chi phối; tạo thuận lợi hộ kinh doanh phát huy tối đa tiềm năng và lợi ích, đóng góp cho phát triển kinh tế; Thứ tư, tạo thuận lợi hơn, giảm chi phí trong tổ chức lại doanh nghiệp: sáp nhập, hợp nhất, chia, tách và chuyển đổi loại hình doanh nghiệp.

Hơn 01 năm triển khai thực hiện, Luật Doanh nghiệp năm 2020 và các Nghị định hướng dẫn thi hành đã có những tác động tích cực trong tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, thúc đẩy thành lập, phát triển và mở rộng kinh doanh của các doanh nghiệp. Tuy vậy, bên cạnh những mặt tích cực và những kết quả đạt được, những quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 về xác lập quyền, nghĩa vụ của thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn vẫn còn điểm bất cập, hạn chế cần phải sửa đổi, bổ sung để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn.

2. Hạn chế, bất cập trong quy định của Luật Doanh nghiệp về xác lập quyền, nghĩa vụ của thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn

Căn cứ quy định tại Điều 47, Điều 52, Điều 53 Luật Doanh nghiệp năm 2020, có 05 trường hợp hình thành tư cách thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn của tổ chức, cá nhân gồm:

– Góp vốn thành lập công ty;

– Nhận chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên công ty;

– Hưởng di sản thừa kế là phần vốn góp;

– Nhận tặng cho tài sản là phần vốn góp;

– Nhận thanh toán khoản nợ bằng tài sản là phần vốn góp.

Tuy nhiên, thời điểm xác lập quyền, nghĩa vụ với tư cách là thành viên công ty của các tổ chức, cá nhân trong 05 trường hợp trên lại được quy định khác nhau. Đối với trường hợp góp vốn thành lập công ty và nhận chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên công ty còn có những điểm bất cập, hạn chế cần phải khắc phục. Cụ thể:

2.1. Trường hợp góp vốn thành lập công ty

Trừ trường hợp cam kết góp vốn khi đăng ký thành lập doanh nghiệp, căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 47 Luật Doanh nghiệp năm 2020: “Người góp vốn trở thành thành viên của công ty kể từ thời điểm đã thanh toán phần vốn góp và những thông tin về người góp vốn quy định tại các điểm b, c và đ khoản 2 Điều 48 của Luật này được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký thành viên”.

Như vậy, người góp vốn dù đã thanh toán đầy đủ phần vốn góp của mình cho công ty, nhưng nếu những thông tin: Họ, tên, địa chỉ liên lạc, quốc tịch, số giấy tờ pháp lý của cá nhân đối với thành viên là cá nhân; tên, mã số doanh nghiệp hoặc số giấy tờ pháp lý của tổ chức, địa chỉ trụ sở chính đối với thành viên là tổ chức; Phần vốn góp, tỷ lệ phần vốn góp đã góp, thời điểm góp vốn, loại tài sản góp vốn, số lượng, giá trị của từng loại tài sản góp vốn; Số và ngày cấp giấy chứng nhận phần vốn góp chưa được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký thành viên thì tổ chức, cá nhân đó đương nhiên chưa trở thành thành viên của công ty và tất nhiên cũng không có các quyền của thành viên công ty theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020.

Quy định này, đã gây khó khăn cho quá trình xác lập tư cách thành viên công ty của tổ chức, cá nhân góp vốn vào công ty; làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền của cá nhân, tổ chức tại công ty và ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của người góp vốn.

2.2. Trường hợp nhận chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên công ty

Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 52 Luật Doanh nghiệp năm 2020: “Thành viên chuyển nhượng vẫn có các quyền và nghĩa vụ đối với công ty tương ứng với phần vốn góp có liên quan cho đến khi thông tin về người mua quy định tại các điểm b, c và đ khoản 2 Điều 48 của Luật này được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký thành viên”.

Như vậy, một lần nữa quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 vẫn ràng buộc điều kiện những thông tin về người mua được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký thành viên là điều kiện đủ để tổ chức, cá nhân nhận chuyển nhượng phần vốn góp xác lập tư cách thành viên công ty. Quy định này là mâu thuẫn với quy định tại khoản 29 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020: “Thành viên công ty là cá nhân, tổ chức sở hữu một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty hợp danh”.

Rõ ràng giao dịch chuyển nhượng phần vốn góp của người chuyển nhượng và người nhận chuyển nhượng đã hoàn thành, người nhận chuyển nhượng đương nhiên trở thành chủ sở hữu phần vốn góp của người chuyển nhượng tại công ty và trở thành thành viên công ty theo giải thích, định nghĩa tại khoản 29 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 và không cần thêm bất kỳ điều kiện gì để xác lập tư cách thành viên.

Do vậy, quy định về điều kiện những thông tin về người mua được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký thành viên là thừa, gây cản trở cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người nhận chuyển nhượng phần vốn góp đối với các hoạt động của công ty.

3. Giải pháp hoàn thiện quy định của Luật doanh nghiệp năm 2020 về xác lập quyền, nghĩa vụ của thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn

Trên cơ sở những hạn chế, bất cập về thời điểm xác lập tư cách thành viên công ty, xác lập quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức góp vốn, nhận chuyển nhượng phần vốn góp đối với công ty được nêu tại Mục 2, tác giả đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 về xác lập quyền, nghĩa vụ của thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn như sau:

3.1. Phương hướng hoàn thiện quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020

Thứ nhất, thống nhất quy định về thời điểm xác lập tư cách thành viên, thời điểm xác lập quyền, nghĩa vụ của thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn giữa các trường hợp hình thành tư cách thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn.Cụ thể là giữa trưởng hợp góp vốn thành lập công ty, nhận chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên công ty với trường hợp hưởng di sản thừa kế là phần vốn góp, nhận tặng cho tài sản là phần vốn góp, nhận thanh toán khoản nợ bằng tài sản là phần vốn góp.

Thứ hai, hoàn thiện quy định về thời điểm xác lập tư cách thành viên, thời điểm xác lập quyền, nghĩa vụ của thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn theo hướng bỏ quy định về điều kiện ghi nhận thông tin: Họ, tên, địa chỉ liên lạc, quốc tịch, số giấy tờ pháp lý của cá nhân đối với thành viên là cá nhân; tên, mã số doanh nghiệp hoặc số giấy tờ pháp lý của tổ chức, địa chỉ trụ sở chính đối với thành viên là tổ chức; Phần vốn góp, tỷ lệ phần vốn góp đã góp, thời điểm góp vốn, loại tài sản góp vốn, số lượng, giá trị của từng loại tài sản góp vốn; Số và ngày cấp giấy chứng nhận phần vốn góp vào sổ đăng ký thành viên là điều kiện để xác lập tư cách thành viên, xác lập quyền, nghĩa vụ của thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn.

3.2. Giải pháp cụ thể

a) Sửa đổi quy định tại khoản 5 Điều 47 Luật Doanh nghiệp năm 2020

Như đã giải thích, quy định tại khoản 5 Điều 47 Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã gây khó khăn cho quá trình xác lập tư cách thành viên công ty của tổ chức, cá nhân góp vốn vào công ty; làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền của cá nhân, tổ chức tại công ty và ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của người góp vốn.

Do vậy, tác giả đề xuất sửa đổi khoản 5 Điều 47 Luật Doanh nghiệp năm 2020 và được viết lại như sau: “Người góp vốn trở thành thành viên của công ty kể từ thời điểm đã thanh toán phần vốn góp”.

b) Sửa đổi quy định tại khoản 2 Điều 52 Luật Doanh nghiệp năm 2020

Nhằm tạo sự thống nhất với giải thích, định nghĩa về thành viên công ty: “Thành viên công ty là cá nhân, tổ chức sở hữu một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty hợp danh” tại khoản 29 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 và tạo điều kiện thuận lợi cho người nhận chuyển nhượng phần vốn góp trong quá trình thực hiện quyền, nghĩa vụ của thành viên công ty.

Tác giả đề xuất sửa đổi khoản 2 Điều 52 Luật Doanh nghiệp năm 2020 và được viết lại như sau: “Người nhận chuyển nhượng trở thành thành viên của công ty kể từ thời điểm thanh toán đầy đủ giá trị phần vốn góp cho thành viên chuyển nhượng theo hợp động chuyển nhượng phần vốn góp và thành viên chuyển nhượng đương nhiên không còn các quyền và nghĩa vụ đối với công ty”.

Trên đây là một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 về xác lập quyền, nghĩa vụ của thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn, góp phần tạo thuận lợi cho quá trình xác lập tư cách thành viên của cá nhân, tổ chức góp vốn, nhận chuyển nhượng phần vốn góp. Đồng thời, phát huy được tính kịp thời trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thành viên công ty, bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khi góp vốn và nhận chuyển nhượng phần vốn góp để trở thành thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn./.

Nộp hồ sơ đăng ký thành lập công ty tại Sở KH&ĐT – Ảnh: PV

Nguồn bài viết: https://tapchitoaan.vn/hoan-thien-quy-dinh-cua-luat-doanh-nghiep-ve-xac-lap-quyen-nghia-vu-cua-thanh-vien-trong-cong-ty-trach-nhiem-huu-han6865.html

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *